Tên đề tài luận án tiến sĩ: “Đánh giá kết quả điều trị viêm ruột thừa cấp chưa biến chứng bằng kháng sinh so với cắt ruột thừa nội soi”
Lượt xem: 19
Tên nghiên cứu sinh: Mai Văn Đợi
Ngành: Ngoại khoa
Mã số: 9720104
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Ngày bảo vệ: 08h00 ngày 29 tháng 12 năm 2025
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Năng, GS. David Jayne, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Những đóng góp mới của luận án
Đa số bệnh nhân đáp ứng tốt, với 97,48% cải thiện lâm sàng, chỉ 4 trường hợp (2,52%) không cải thiện phải chuyển mổ cấp cứu. Sau 24 giờ điều trị, chỉ số bạch cầu giảm rõ rệt từ 12,96 ± 3,89 xuống 8,37 ± 3,08 (p < 0,001). Ngược lại, CRP có xu hướng tăng từ 16 lên 39,8 mg/L (p < 0,001). Tỉ lệ cắt ruột thừa sau điều trị KS phần lớn xảy ra trong vòng 1 năm đầu (tương đương 17%). Tỷ lệ cắt ruột thừa tích lũy đến thời điểm kết thúc nghiên cứu là 22,01%.
Tỷ lệ cải thiện lâm sàng đạt 98,15%. Thời gian mổ trung bình 59,28 phút, không chuyển mổ mở. Tỷ lệ biến chứng chung 7,41%, chủ yếu nhiễm trùng vết mổ độ I. Có 2 ca mô bệnh học sau mổ là RT không viêm (1,23%). Kết quả theo dõi nhóm phẫu thuật cho thấy diễn tiến lâm sàng và cận lâm sàng cải thiện theo thời gian. 1 trường hợp thoát vị rốn và 1 bán tắc ruột (0,62%) sau 1 năm.
Điều trị bằng KS VRTC chưa biến chứng chẩn đoán xác định bằng CLVT không kém hơn phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa về phương diện viêm phúc mạc trong vòng 30 ngày sau can thiệp.
Nhóm điều trị KS có mức độ đau thấp hơn, thời gian nằm viện và nghỉ ốm ngắn hơn đáng kể so với nhóm phẫu thuật (p < 0,001).
Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật ở nhóm điều trị kháng sinh thất bại (3,14%) thấp hơn so với nhóm phẫu thuật ngay từ đầu (7,71%). Không có trường hợp tử vong nào được ghi nhận ở cả hai nhóm trong suốt quá trình nghiên cứu. Tỷ lệ thành công sau 1 năm ở nhóm phẫu thuật cao hơn rõ rệt so với nhóm KS (93,21% so với 83,02%).
Đề kháng thành bụng là dấu hiệu lâm sàng có giá trị chẩn đoán, xuất hiện ở 83,33% bệnh nhân có viêm phúc mạc so với 12,18% ở nhóm không viêm phúc mạc (p < 0,001). Ngoài ra, bạch cầu trung bình và CRP >50mg/L cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm viêm phúc mạc.
Trong nhóm kháng sinh, ba biến độc lập CRP > 20 mg/L, sốt ≥ 38,5°C và đường kính ruột thừa lớn hơn 10 mm, kết hợp phản ánh đầy đủ cả phản ứng viêm toàn thân lẫn mức độ thương tổn mô cục bộ. Việc tích hợp chúng vào việc chọn bệnh nhân sẽ cải thiện khả năng nhận diện sớm ca nguy cơ cao thất bại với điều trị kháng sinh.
New conclusions of the thesis
The majority of patients responded well: 97.48% showed clinical improvement, with only 4 cases (2.52%) requiring emergency surgery due to lack of response. After 24 hours of treatment, leukocyte count significantly decreased from 12.96 ± 3.89 to 8.37 ± 3.08 (p < 0.001). Conversely, CRP increased from 16 to 39.8 mg/L (p < 0.001). Most appendectomies after antibiotic therapy occurred within the first year (≈ 17%). The cumulative appendectomy rate by the end of the study was 22.01%.
Clinical improvement rate: 98.15%. The mean operative time was 59.28 minutes, with no conversions to open surgery. Overall complication rate: 7.41%, predominantly grade I surgical site infections. Histopathology revealed 2 cases (1.23%) of non-inflamed appendices. Follow-up demonstrated progressive clinical and laboratory improvement. One case of umbilical hernia and one case of partial bowel obstruction (0.62%) were recorded at one year.
For CT-confirmed uncomplicated acute appendicitis, antibiotic therapy was non-inferior to laparoscopic appendectomy regarding the risk of peritonitis within 30 days.
The antibiotic group experienced significantly less pain, shorter hospital stay, and quicker return to normal activities (p < 0.001).
The complication rate in patients with antibiotic failure who subsequently underwent surgery (3.14%) was lower than that in patients initially treated with surgery (7.71%). No mortality was observed in either group. At one year, the success rate was significantly higher in the surgical group (93.21%) compared with the antibiotic group (83.02%).
In the surgical group, abdominal guarding was a strong diagnostic marker, observed in 83.33% of patients with peritonitis versus 12.18% without peritonitis (p < 0.001). Higher leukocyte counts and CRP > 50 mg/L were also statistically significant predictors.
In the antibiotic group, three independent predictors of treatment failure were identified: CRP > 20 mg/L, fever ≥ 38.5 °C, and appendiceal diameter > 10 mm. These parameters reflect both systemic inflammatory response and local tissue involvement. Incorporating them into patient selection criteria may improve early identification of high-risk cases unsuitable for antibiotic therapy.
Toàn văn luận án:
https://drive.google.com/file/d/10oD0U2BoSl_fQvyk5vZLjt54f7hT68Xo/view?usp=drive_link
Tóm tắt luận án tiếng Việt:
https://drive.google.com/file/d/1lcB1Bonk-ZI6Ha4qQ_Wj3Jx_cWFEZ2hu/view?usp=drive_link
Tóm tắt luận án tiếng Anh:
https://drive.google.com/file/d/1TZNkAgf5NoQejD-MYdC-ESjUwXHcBI6h/view?usp=drive_link