Tên đề tài luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu kết quả cắt u dưới niêm thực quản - dạ dày bằng kỹ thuật đào hầm dưới niêm mạc qua nội soi ống mềm”

07/07/2026

Lượt xem: 338

Tên nghiên cứu sinh: La Vĩnh Phúc

Ngành: Ngoại khoa

Mã số: 9720104

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Ngày bảo vệ: 13h30 ngày 16 tháng 6 năm 2026

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Võ Huỳnh Trang, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ; GS.TS. Phạm Văn Lình, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Những đóng góp mới của luận án

Trong nghiên cứu, u dưới niêm được ghi nhận qua nội soi ở toàn bộ bệnh nhân, chủ yếu gặp tại dạ dày, các vị trí gồm tâm vị 14,29% (9/63), thân vị 26,98% (17/63), đáy vị 1,59% (1/63) và hang vị 31,75% (20/63).; u phân bố tại thực quản chiếm 25,4% Kích thước u qua nội soi có trung vị 12 mm (7–30 mm), nhóm 10–<20 mm chiếm tỷ lệ nhiều nhất, bề mặt u đa số trơn láng và u có xu hướng ít di động hơn ở dạ dày so với thực quản. Trên chụp cắt lớp vi tính, tỷ lệ phát hiện u đạt 63,49%; độ phù hợp định vị giữa chụp cắt lớp vi tính và nội soi rất cao với tỷ lệ trùng khớp 92,5% và hệ số Kappa 0,896 (p < 0,001). Về giải phẫu bệnh, tổn thương chủ yếu là lành tính, trong đó u cơ trơn chiếm tỷ lệ cao nhất là 42,86% (27/63), tiếp theo mô tụy lạc chỗ chiếm 17,46% (11/63), u mô đệm đường tiêu hóa và u mỡ đều chiếm 9,52% (6/63).

Tóm lại, nội soi có vai trò nền tảng trong định vị và mô tả hình thái u; chụp cắt lớp vi tính hỗ trợ đánh giá trước can thiệp với khả năng phát hiện u, kích thước u, mức độ xâm lấn của u. Giải phẫu bệnh khẳng định phần lớn tổn thương lành tính và cung cấp cơ sở quan trọng cho đánh giá kết quả điều trị cũng như tiên lượng.

Nghiên cứu thực hiện trên 63 bệnh nhân (5/2022–1/2025) cho thấy kỹ thuật cắt u bằng đào hầm dưới niêm mạc qua nội soi ống mềm (STER) đạt hiệu quả cao và an toàn.

- Tỷ lệ không cần chuyển phẫu thuật đạt 98,41% (62/63); chỉ ghi nhận 01 trường hợp chuyển phẫu thuật nội soi chủ động (1,59%).

- Tỷ lệ cắt trọn u đạt 100% (63/63), thể hiện khả năng lấy trọn tổn thương, đảm bảo an toàn về mặt ung thư học.

- Tỷ lệ cắt u xuyên thành là 28,57% (18/63); gặp chủ yếu ở u dạ dày (36,17%) và cao hơn u thực quản (6,25%).

- Không ghi nhận biến chứng hậu phẫu (0%), điểm đau VAS giảm nhanh và thời gian nằm viện sau thủ thuật trung vị 2 ngày.

- Kết quả sớm đạt mức tốt 98,41%, trung bình 1,59%.

- Theo dõi ≥ 6 tháng ở 52 bệnh nhân cho thấy không ghi nhận tái phát (0%), đồng thời không xuất hiện các triệu chứng tiêu hóa tồn lưu như trào ngược, nuốt khó hay đau thượng vị.

New conclusions of the thesis

In this study, subepithelial tumors were identified endoscopically in all patients, predominantly located in the stomach, including the cardia in 14.29% (9/63), gastric body in 26.98% (17/63), fundus in 1.59% (1/63), and antrum in 31.75% (20/63); esophageal lesions accounted for 25.40%. The median tumor size measured on endoscopy was 12 mm (range: 7–30 mm), with the 10–<20 mm group being the most common. Most lesions had a smooth surface, and gastric tumors tended to be less mobile than esophageal tumors. On computed tomography (CT), the tumor detection rate was 63.49%; the concordance in tumor localization between CT and endoscopy was excellent, with an observed agreement of 92.5% and a Kappa coefficient of 0.896 (p < 0.001). Histopathological examination revealed that the majority of lesions were benign, with leiomyoma being the most frequent diagnosis (42.86%, 27/63), followed by heterotopic pancreas (17.46%, 11/63); gastrointestinal stromal tumors and lipoma each accounted for 9.52% (6/63).

In summary, endoscopy plays a fundamental role in tumor localization and morphological assessment, whereas CT supports pre-interventional evaluation in terms of tumor detectability, tumor size, and the extent of tumor invasion. Histopathology confirms the predominantly benign nature of these lesions and provides an essential basis for treatment outcome evaluation and prognostic assessment.

A total of 63 patients (05/2022–2025) underwent STER, demonstrating high efficacy and safety.

- The non-conversion rate was 98.41% (62/63), with only one case requiring elective laparoscopic conversion (1.59%).

- The complete resection rate was 100% (63/63), indicating successful en bloc tumor removal and oncological safety.

- Transmural incision occurred in 28.57% (18/63), predominantly in gastric tumors (36.17%) and was higher than in esophageal tumors (6.25%).

- No postoperative complications were recorded (0%); pain scores (VAS) decreased rapidly, and the median post-procedure hospital stay was 2 days.

- Early outcomes were perfect in 98.41% of cases (62/63) and midding 1.59% of cases (1/63)

- At ≥ 6-month follow-up in 52 patients, no recurrence was observed (0%), and no persistent gastrointestinal symptoms such as reflux, dysphagia, or epigastric pain were reported.

Toàn văn luận án:

https://drive.google.com/file/d/1sRAblO6DZzXBFl_mrRnJkiLQogcvULeM/view?usp=drive_link

Tóm tắt luận án tiếng Việt:

https://drive.google.com/file/d/1XXuXBdEJhprGix6BqTWS86BxfErxCwcE/view?usp=drive_link

Tóm tắt luận án tiếng Anh:

https://drive.google.com/file/d/1e6SJ0qZHVW7_YhVnPakWsXc9B6LexUKd/view?usp=drive_link